Mùa hè năm 1981, sau vụ dịch lớn 1.300 người bị mắc bệnh ở xã Phù Chẩn, cách xã Tân Chi khoảng 6-7 Km vừa dập xong thì Tân Chi phát hiện được dịch do có một bệnh nhân sốt cao và bị tử vong. Tiếp theo đó có nhiều người bị sốt, tập trung ở hai xóm trong xã. Số bệnh nhân lên tới gần 100 người.
1. Triệu chứng khám:
- Số nhức đầu là triệu chứng chung, kèm có sắc da hồng thẫm, có các nốt ban lờ mờ, có người thấy những mảng xuất hiện dưới da, môi se thẫm, lưỡi rêu trắng và rêu vàng.
- Có tiếng thở thô, có người thở ra có mùi hôi, cũng có người nói mê sảng.
- Sốt cao nhiệt độ 38-40oC, nhức đầu, kém ngủ, chán ăn, buồn nôn, có người nôn nhiều, đau lưng mình ở khắp người, có người chảy máu mũi, máu chân răng. Phụ nữ kỳ kinh kéo dài hoặc rong kinh. Đại tiện có người táo, tiểu tiện vàng đỏ.
- Mạch nhanh 80-100 lần/phút, phù sác, hồng đại.
2. Chẩn đoán
- Bệnh thử ôn có lây lan thành dịch
- Sốt xuất huyết lan thành dịch sốt xuất huyết.
3. Xử trí
Chung: Hạ nhiệt, mát huyết, an thần, nuôi dưỡng âm dịch.
Riêng: theo các triệu chứng kèm theo:
- Nôn: An thần, điều hòa tỳ vị
- Xuất huyết: Mát huyết, cầm máu.
- Hạ huyết áp, suy nhược cơ thể: Nâng huyết áp, nâng cao sức khỏe.
4. Dùng thuốc
- Dùng chung: Cho các thứ là vào thùng to, đun sôi lâu, ngày đun hai lần lấy nước phát cho bệnh nhân, nằm tại nhàm ngày uống 1 lít, chia 03 lần.
- Các bệnh nhân có triệu chứng riêng: Ngoài uống thuốc chung, có gia thêm các vị thuốc đun riêng để chữa triệu chứng.
- Kết hợp với Y học hiện địa: Các bệnh nhân nặng khi tụt huyết áp, trụy tim mạch có kết hợp thuốc trợ tim, truyền huyết thanh,…
5. Các vị thuốc
a. Dùng sắc chung
- Lá dâu, lá tre, là nhọ nồi, lá sài đất, cam thảo đất, cỏ mần trầu, dây kim ngân.
b. Dùng riêng thêm
- Sốt cao: Thêm lá dành dành, cỏ nhọ nồi đều giã tươi hòa với nước thuốc trên uống; cách một giờ uống một lần 100 ml.
- Các chứng xuất huyết: Dùng thêm cỏ nhọ nồi và lá trắc bách diệp sắc thêm cho uống.
- Nôn nhiều: Dùng tinh tre, đậu xanh sắc uống.
6. Diễn biên trong điều trị
a. Diễn biến chủ quan
- Dùng cá thứ lá trên cho bệnh nhân uống chung và uống thêm cho các triệu chứng kèm theo cho hơn 100 bệnh nhân thấy hạ sốt, đỡ nhức đầu, đỡ nôn, đỡ chảy máu.
- Có bệnh nhân hạ nhiệt bằng lá giã tươi, nhiệt hạ rất đột ngột. Thời kỳ đầu có một bệnh nhân sốt từ 39-40oC, uống thuốc qua 30 giờ hạ xuống 35-36oC và thấy mạch cũng hạ theo nhiệt độ, đến khi hạ huyết áp. Từ đó nâng nhiệt lên 37oC rất lâu và người lâu phục hồi.
b. Diễn biến khách quan
- Vụ dịch đang điều trị được hơn 100 bệnh nhân thì xảy ra mưa to bão lớn của cơn bão số 1, kéo dài đến 03 ngày đêm, rất trở ngại cho công tác điều trị, nhất là ngừng việc kiếm hái dược liệu vì dược liệu là những cây ở ngay địa phương.
- Trước tình hình đó, chúng tôi kiểm tra lại kho thuốc nam của trạm y tế, liên hệ đến bệnh dịch, chúng tôi dùng được ba vị:
Hương nhu khô 20g/thang
Biển đậu 30g/thanh
Hậu phác 10g/thang
Khi tán nhỏ được 10 kg thuốc bột và đóng gói, mỗi gói 100g lấy tên là bột “Hương Biển Phác”, mỗi bệnh nhân ngày dùng 1 gói, uống 03 lần, pha với nước sôi. Dùng uống trong 03 ngày mưa bão thấy kết quả: Hạ được sốt, đỡ nhức đầu, đỡ đau lưng, ít nôn, muốn ăn và cứ thế dùng cho đến hết dịch.
Những bệnh nhân nặng, có kết hợp với Y học hiện đại dùng thêm Vitamin B1 0,025 ngày tiêm 01 ống.
7. Kết quả điều trị
- Tổng số bệnh nhân: 709 người (Nam 338, nữ 371, trẻ em 58)
- Số bệnh nhân nặng phải nằm điều trị tại trạm: 196 bệnh nhân
- Số ngày điều trị bình quân: 1,5 ngày/bệnh nhân
- Thời gian dập dịch: 28 ngày
- Điều trị khỏi tại địa phương: 697 người
- Số bệnh nhân chuyển viện: 11 người
- Số bệnh nhân tử vong: 01 người (Trước khi đoàn về chống dịch)
KẾT LUẬN
Rút ra kinh nghiệm trong điều trị bệnh:
a. Điều trị dịch tại xã Phù Chẩn (1.300 người mắc)
Dùng uống thuốc chung, vẫn dùng bài thuốc có các thứ lá trên để chữa cho bệnh nhân uống:
Bệnh nhân sốt cao, có dùng thêm các vị thuốc di thực để hạ nhiệt như Huyền Sâm, Sinh Địa, Mạch Môn, Hoàng Bá, Thạch Cao.
Các vị thuốc này hạ nhiệt cũng có tác dụng bồi bổ chân âm nên đỡ sốt, nhiệt được hạ từ từ, không xảy ra tai biến gì.
b. Điều trị dịch tại xã Tân Chi
Ngoài thứ thuốc chung, các bệnh nhân sốt cao không có và không dùng thuốc di thực mà dùng lá tươi uống. Tuy có hạ sốt nhưng bệnh nhân lại hạ sốt đột ngột, gây hạ huyết áp và trụy tim mạch vì các thứ lá tươi chỉ có tác dụng hạ nhiệt chứ không có tác dụng bổ âm.
Dùng bột “Hương Biển Phác” để thay thế trong lúc thiếu lá cũng có kết quả tốt nhưng đối chiếu với học thuyết ôn bệnh thì Hương Nhu, Biển Đậu chỉ có tác dụng điều trị: Khí nắng (Thử khí) trong mùa hè hơn nữa “Hương Biển Phác” không phải là thuốc tại chỗ nên khi dùng nhiều và đại trà không bằng các thứ là trên.
Vụ dịch sốt xuất huyết xã Tân Chi là vụ dịch lớn sau vụ dịch xã Phù Chẩn của Hà Bắc năm 1981. Thắng lợi dập được dịch nhanh, hạn chế tử vong, giải phóng nhanh sức lao đông trở về với sản xuất.
Ngô Quý Nhân
Bệnh viện huyện Yên Phong – Bắc Ninh
Tạp chí Y học cổ truyền số 200 (10/1986)